• 0

    Chưa có sản phẩm trong giỏ hàng.

Chủ Nhật, 13 Tháng 9, 2026
  • 0

    Chưa có sản phẩm trong giỏ hàng.

  • 0

    Chưa có sản phẩm trong giỏ hàng.

Chương trình Giao lưu – thăm và tri ân gia đình chính sách, người có công, chủ đề “THẮP LỬA TRI ÂN – TIẾP BƯỚC DỰNG XÂY”

0 bình luận

Trong không khí thiêng liêng, xúc động của những ngày tháng 7, triệu trái tim người Việt cùng hướng về một ngày lễ đặc biệt của dân tộc, đó là Ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7, với mong muốn thắp sáng ngọn lửa biết ơn trong lòng thế hệ trẻ, đồng thời mang đến sự ấm áp, sẻ chia thiết thực đối với các gia đình chính sách, người có công, Nhà Văn hóa Phụ nữ TP.HCM đã có chuyến hành trình “trở về” vô cùng ý nghĩa với chương trình Giao lưu – thăm và tri ân gia đình chính sách, người có công, chủ đề “THẮP LỬA TRI ÂN – TIẾP BƯỚC DỰNG XÂY”. Đây không chỉ là hoạt động đền ơn đáp nghĩa, mà còn là cơ hội để nhắc nhớ chúng ta về lịch sử đấu tranh giành độc lập, tự do và bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam đã được viết nên bằng xương máu, thanh xuân cùng sự hy sinh thầm lặng của biết bao anh hùng liệt sĩ, thương bệnh binh và các gia đình có công với cách mạng.

Độc lập, tự do ngày hôm nay không chỉ được đánh đổi bằng những trận chiến trực diện ngoài mặt trận, mà còn bằng vô vàn cuộc đấu trí thầm lặng, bằng những giọt máu thắm tô trên vai áo, và cả những nỗ lực vươn lên không ngừng nghỉ giữa thời bình. Chúng ta hãy cùng lắng lại với 6 câu chuyện cảm động từ những nhân chứng lịch sử, những người đã góp phần viết lên trang sử hào hung của dân tộc:

NHỮNG NGƯỜI LÍNH CỤ HỒ VỚI BẢN HÙNG CA CHIẾN ĐẤU.

Chú Trần Ngọc Cảnh (sinh năm 1964), xếp lại tuổi 17 hừng hực sức trẻ theo lệnh tổng động viên. Vừa đặt chân đến chiến trường Tây Nam, chàng trai trẻ đã cảm nhận được sự tàn khốc của chiến tranh, không có đồ ăn, thức uống, thời tiết khắc nghiệt, từng giây từng phút đối diện với hiểm nguy, thật sự cảm nhận như không có ngày trở về. Trải qua những trận đánh khốc liệt, chú bị thương nặng khi vướng phải bẫy mìn của tập đoàn diệt chủng Pol Pot. Sau đó chú được đưa về Việt Nam tiếp tục điều trị thì hay tin mẹ mất khi vẫn còn đang nằm trong bệnh viện. Bước qua lằn ranh sinh tử nơi chiến trường Campuchia khốc liệt và trở về với đôi chân không còn lành lặn, chú vẫn vượt qua mọi khó khăn và sự tự ti, bền bỉ vươn lên giữa thời bình. Chú tự nhận bản thân may mắn vì còn sống trở về, có cơ hội gặp mẹ lần cuối và có một gia đình trọn vẹn. Chú chia sẻ, chính những lời hỏi thăm, những món quà nghĩa tình vào các dịp lễ, Tết hay ngày 27/7 đã giúp những người lính như chú cảm thấy ấm lòng vì sự hy sinh của mình luôn được xã hội trân trọng. Chú mong các bạn trẻ biết sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, xã hội để góp phần xây dựng quê hương.

2aOboQmb9nrlBTj4dCSA5Ybd2r392OEwuSnoqZw8

Không chỉ là những cuộc chiến đối đầu trực tiếp nơi chiến trường khốc liệt như chú Trần Ngọc Cảnh, lịch sử còn ghi dấu những vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm với những chiến công vang dội. Đại tá Lê Văn Cúc (sinh năm 1932, kết nạp Đảng năm 1950), nguyên Hiệu trưởng trường Quân chính. Tham gia cách mạng từ sớm, cuộc đời của bác Lê Văn Cúc gắn liền với những chặng đường gian khổ nhưng vĩ đại của dân tộc. Trong suốt những năm tháng binh nghiệp, bác đã có tới 3 lần “đi B”, vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Là một người lính pháo binh dày dạn kinh nghiệm, bác Cúc từng tham gia hàng loạt trận đánh nảy lửa, trong đó có cuộc chiến chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mùa hè đỏ lửa năm 1972 hay những năm tháng làm nhiệm vụ quốc tế tại chiến trường Campuchia. Thế nhưng, sâu đậm nhất trong ký ức của vị đại tá già vẫn là trận đánh Trảng Bom diễn ra vào ngày 26 và 27/4/1975, bác cùng các đồng đội Sư đoàn 341 nhận nhiệm vụ nổ súng tiến công, đập tan “cánh cửa thép” phía Đông. Chiến thắng Trảng Bom đã mở toang đại lộ cho các cánh quân giải phóng tiến thẳng vào Sài Gòn, tạo đà thắng lợi quyết định cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất đất nước. Nhìn lại chặng đường đã qua, Bác mong thế hệ trẻ sống nhân hậu, phấn đấu vượt qua khó khăn đưa đất nước phát triển, không phụ công sức chiến đấu gìn giữ hòa bình, độc lập cho đất nước của cha ông đi trước.

2aOboQmb9mfzsnWOKpF15sVbpoL9BF1dek6D9S1A 2aOboQmb9mH0JPiuhYTKNAW7kDdaTMwr2dZ2vJWy

Song song với những trận chiến làm rung chuyển chiến trường của Đại tá Lê Văn Cúc, còn có những cuộc chiến khác vô cùng áp lực và thầm lặng – cuộc chiến trong lòng địch của những chiến sĩ Biệt động Sài Gòn. Bác Lâm Quốc Dũng (sinh năm 1949) mang trên ngực áo những chiếc huân, huy chương cao quý. Bằng đôi tay tài hoa và trí tuệ siêu việt, bác đã sáng tạo ra hàng ngàn tấm giấy tờ giả, tạo nên những “tấm lá chắn” hợp pháp đưa lực lượng Biệt động Sài Gòn luồn sâu, bám rễ ngay trong sào huyệt kẻ thù. Năm 14 tuổi, với quyết tâm sắt đá, bác quyết định khai thêm tuổi, nhờ chính lực lượng quân giải phóng thuyết phục gia đình để lên đường nhập ngũ và được về làm việc tại Phòng Chính trị thuộc Quân khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Trong số ba người được cử đi đào tạo nghiệp vụ tại Khu ủy, bác Dũng là người duy nhất được tin tưởng lựa chọn gánh vác sứ mệnh đặc biệt: Tạo ra các loại giấy tờ giả cho lực lượng cách mạng và tình báo hoạt động hợp pháp dưới vỏ bọc của chế độ cũ. Nhiệm vụ của bác rất áp lực, phức tạp, đòi hỏi chính xác cao, đặc biệt bí mật, bởi vì chỉ cần một sơ suất nhỏ có thể đổi lại bằng cả tính mạng của đồng đội. Trong đó, khó khăn nhất là việc làm phôi con dấu khắc bằng gỗ và luyện tập chữ ký giả. Từ năm 1966 đến năm 1975, trong căn phòng bí mật, người chiến sĩ trẻ ấy đã miệt mài nghiên cứu để cho ra đời hàng loạt loại giấy tờ “sinh tử”: từ thẻ căn cước, giấy hoãn dịch, giấy xuất ngũ cho đến giấy trích lục khai sinh. Mỗi tấm giấy tờ ra đời là một “tấm vé thông hành” an toàn, giúp cán bộ, chiến sĩ biệt động tự tin qua mắt các trạm kiểm soát dày đặc của địch. Nổi bật nhất chính là việc chinh phục tấm thẻ căn cước “Rồng xanh”. Đây là loại giấy tờ được chính quyền Sài Gòn thời bấy giờ áp dụng công nghệ tân tiến nhất của Mỹ, in ấn kèm biên nhận bằng máy IBM hiện đại nhằm mục đích tối thượng: Chống Việt Cộng làm giả. Đỉnh điểm chiến dịch Mậu Thân 1968, bác đã thực hiện giấy tờ giả cho khoảng 200 cán bộ, chiến sĩ biệt động tiến công vào các mục tiêu trọng yếu tại Sài Gòn. Hòa bình lặp lại, bộ đồ nghề đặc biệt – “vũ khí” thầm lặng từng góp phần làm nên những chiến công vang dội của Biệt động Sài Gòn năm xưa, hiện đang được trang trọng trưng bày tại Bảo tàng Biệt động Sài Gòn. Ở tuổi xế chiều, bác Lâm Quốc Dũng còn cho ra đời cuốn sách “Chuyện bây giờ mới kể” như một mảng ký ức lưu dấu cho thế hệ mai sau.

NHỮNG “TƯỢNG ĐÀI SỐNG” VỀ LÒNG CHUNG THỦY VÀ NGHỊ LỰC

Tạm biệt những người Cựu chiến binh anh dũng, hành trình tri ân đưa chúng ta đến những câu chuyện của ba người phụ nữ – những người mẹ, người vợ liệt sĩ. Họ mang những nỗi đau mất mát khác nhau nhưng chung một ý chí kiên trung, thủy chung, bất khuất của người phụ nữ Việt Nam.

Với cô Châu Thị Hồng Loan (sinh năm 1959), nỗi đau lớn nhất của gia đình sau ngày vui thống nhất là nấm mồ chưa tìm thấy hài cốt của người chồng thân yêu, và những tháng ngày bươn chải nhọc nhằn để nuôi đứa con gái mang dị tật vượt qua số phận. Năm 1977, khi vừa sinh con được 3 ngày, cô Loan ngậm ngùi tiễn chồng – chú Trương Văn Ngân lên đường nhập ngũ. Chỉ một năm sau cô hay tin chú Ngân đã anh dũng hy sinh. Bi kịch chưa dừng lại ở đó, chị Hiền – con gái cô không may bị sốt bại liệt. Dù đã được tận tình cứu chứa nhưng một bên chân của chị vẫn yếu dần và vĩnh viễn không thể phục hồi. Để có tiền trị bệnh và nuôi con, cô Loan không ngần ngại làm bất cứ công việc gì dù vất vả, khó khăn. Điểm tựa tinh thần duy nhất giúp hai mẹ con vượt qua những ngày giông bão chính là tấm ảnh quý giá của liệt sĩ Trương Văn Ngân khi còn trẻ. Chị Hiền luôn cẩn trọng mang tấm ảnh bên người như một báu vật, nơi cất giữ ký ức duy nhất và là nguồn tựa an ủi thiêng liêng về người cha chưa từng ôm chị vào lòng. Dù cuộc sống khó khăn, gia đình cô vẫn giữ tinh thần lạc quan, cảm thấy được an ủi khi thường xuyên nhận được sự quan tâm, chia sẻ của chính quyền địa phương. Cuộc đời của cô Châu Thị Hồng Loan và chị Hiền là một nốt trầm nhói lòng, nhắc nhở thế hệ hôm nay về trách nhiệm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Những tổn thương, mất mát mà chiến tranh để lại cho các gia đình chính sách không chỉ là những vết thương trên thịt da, mà là những gian nan âm thầm kéo dài qua nhiều thế hệ.

Cùng mang nỗi dau mất đi người thân yêu nơi chiến trường, cuộc đời cô Huỳnh Thị Nhung lại trải qua nhiều mất mát liên tiếp khi tuổi còn rất trẻ. Đến thăm cô Huỳnh Thị Nhung (sinh năm 1951) đoàn công tác mới thấu hiểu đến tận cùng cái giá đắt đỏ, nhói lòng của hai chữ “hòa bình’ – một hòa bình được dệt nên không chỉ bằng máu xương nơi chiến trường, mà còn bằng những giọt nước mắt nghẹn ngào của người ở lại. Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, ngay từ nhỏ, cô Nhung đã quen với mái nhà là nơi nuôi giấu cán bộ, bộ đội. Nhưng rồi trong một lần bị địch phát hiện, chúng ném bom tàn phá, cướp đi cùng lúc cả cha, mẹ và 3 người cháu nhỏ của cô. Nỗi đau mất đi những người thân yêu nhất khi tuổi đời còn quá nhỏ đã biến thành ngọn lửa cách mạng sục sôi trong lòng người con gái ấy. Năm 14 tuổi, cô đã làm liên lạc cho bộ đội. Sau khi nhập ngũ, cô tham gia chiến đấu tại nhiều đơn vị như Đặc công Đoàn 10 Rừng Sác, Biệt động Sài Gòn. Cô được trao tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong cuộc trò chuyện đầy tự hào bỗng vang lên tiếng nấc nghẹn ngào khi nhắc đến khoảnh khắc cô hay tin người chồng thân yêu – chú Dương Đình Sanh đã anh dũng hy sinh ngoài mặt trận và khi ấy cô đang mang thai. Nhói lòng hơn khi đến nay vẫn chưa thể tìm được hài cốt hay bất kỳ di vật nào của liệt sĩ Dương Đình Sanh, dưới nấm mồ kia chỉ là một nắm đất tượng trưng nơi anh hy sinh. Cuộc đời một người phụ nữ đã gánh chịu sự mất mát trọn vẹn của cả ba người thân yêu nhất – cha, mẹ và chồng, tất cả đều ngã xuống vì độc lập, tự do của dân tộc. Ở tuổi xế chiều, dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, vất vả, nhưng trong ánh mắt của người nữ chiến sĩ năm xưa vẫn ngời lên tinh thần kiên cường của người lính Cụ Hồ.

Tiếp nối dòng ký ức nghẹn ngào ấy là câu chuyện của một nữ cựu tù kiên trung, người đã biến nỗi đau thành sức mạnh phụng sự cộng đồng suốt cả cuộc đời. Ở tuổi gần tám mươi, cô Bùi Thị Sáu (sinh năm 1948, 50 năm tuổi Đảng), vợ Liệt sĩ Nguyễn Văn Re; nguyên Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam Quận 7, nguyên Ban chủ nhiệm CLB Cưu binh tù đày Quận 7, người nữ tù đày kiên trung, người cán bộ phụ nữ gắn bó cả đời với công tác xã hội, vẫn giữ trọn mối tình sắt son với người chồng liệt sĩ. Cô và liệt sĩ Nguyễn Văn Re kết hôn 2 năm thì chú hy sinh khi hai người chưa có con và đó cũng trở thành một nỗi niềm ray rứt, tiếc nuối trong cô. Trong quá trình hoạt động cách mạng, cô nhiều lần bị địch bắt, trải qua nhiều trại giam như Nhà Bè, Quận 4, Nha Đô Thành – Thủ Đức, Đề lao Gia Định. Sau giải phóng cô tham gia công tác Thương binh – Xã hội, sau đó chuyển sang làm công tác phụ nữ. Dẫu chú đã hy sinh từ lâu, nhưng cô vẫn cảm nhận người bạn đời luôn bên cạnh mình. Tình cảm sâu nặng đó cũng chính là sức mạnh giúp cô vượt qua gian khó thời chiến cũng như thời bình. Dù sức khỏe giảm sút do tuổi cao và chịu ảnh hưởng từ những năm tháng chịu tù đày nhưng hiện cô đã có cuộc sống an yên, sum vầy cùng các cháu. Cô gửi gắm tâm tư mong thế hệ trẻ tiếp tục học tập, làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, làm việc có tâm, có đạo đức cách mạng, tiếp tục học tập, rèn luyện, trau dồi, nâng cao kiến thức để phục vụ công việc trong thời đại mới, góp phần xây dựng, phát triển đất nước. Lời dặn dò chân thành của cô Bùi Thị Sáu không chỉ là ước nguyện của một người đi trước, mà còn là ngọn đuốc tri thức, là nhịp cầu nối liền quá khứ anh hùng với tương lai tươi sáng của dân tộc.

2aOboQmb9skmCzgkzqjWQhiAQUPOfbE85K19wCZs

Chuyến hành trình khép lại, để lại trong lòng mỗi cán bộ, đảng viên, công đoàn viên Nhà Văn hóa Phụ nữ Thành phố những bài học sâu sắc. “Thắp lửa tri ân” – không chỉ là nghi thức hay những món quà giản dị gửi trao. Đó là sự khắc ghi bằng cả trái tim rằng: Mỗi phút giây tự do, bình yên hôm nay đã được dệt nên từ xương máu, từ thanh xuân và cả một đời lặng lẽ hy sinh của các thế hệ cha ông. Và chắc chắn ngọn lửa ấy sẽ không bao giờ tắt bởi thế hệ mai sau sẽ “Tiếp bước dựng xây”

Nhà Văn hóa Phụ nữ TP.HCM xin kính chúc các cô, chú luôn dồi dào sức khỏe, mãi là “cây cao bóng cả” truyền lửa cho thế hệ mai sau!

Đăng ký nhận tin & hình ảnh, khoá học mới nhất từ Nhà Văn hóa Phụ nữ TP.Hồ Chí Minh. Nhận tin ngay từ chúng tôi

NHÀ VĂN HÓA PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Cơ sở 1 :

Địa chỉ: 188-192-194 Lý Chính Thắng, Phường Nhiêu Lộc, Thành phố  Hồ Chí Minh

(Đang thực hiện Dự án xây mới)

 

Cơ sở 2 :

Địa chỉ: 02 Nguyễn Đổng Chi, Phường Tân Mỹ,

Thành phố Hồ Chí Minh

Điện thoại: 028 39 39 3020 (bấm số nội bộ 101 hoặc 102)


Cơ sở Phan Xích Long : 

Địa chỉ: 1L Phan Xích Long,Phường Gia Định,

Thành phố Hồ Chí Minh.

Điện thoại: 028 39 31 6447 – 028 39 31 4661


Cơ sở Võ Thị Sáu : 

Địa chỉ: 71 Võ Thị Sáu, Phường Xuân Hòa, 

Thành phố Hồ Chí Minh

Điện thoại: 028 39 31 6163


Mã số thuế: 0304988247

Người ĐDPL: Phan Thị Bích Hường

Ngày thành lập: theo Quyết định số: 09/QĐ-TH ngày 10/02/1981 của Ban Thường vụ Hội LHPN Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh

Số QĐ thành lập: 63/QĐ – UB ngày 26 tháng 4 năm 1988 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh